Friday, September 9, 2016

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn

1.           Ưu điểm
 Bài học trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có nhiều minh họa sống động, cụ thể với phim tư liệu, tranh ảnh, khúc ngâm, bài hát hoặc các sơ đồ, bảng biểu giúp hệ thống, khái quát hóa bài học trong giờ ôn tập.
Các kiểu chữ, màu chữ, hiệu ứng, phông nền có tác dụng trực quan, nhấn mạnh những nội dung cơ bản, trọng tâm, lôi cuốn sự chú ý và khơi gợi hứng thú cho HS.
 Trong quá trình giảng, GV dễ dàng dừng lại, trở về trước, đi tới sau,… và nhiều thao tác khác nhằm liên kết nội dung bài giảng hay nhấn mạnh thông tin để định hướng, gợi ý HS khám phá, giải quyết vấn đề.
Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian thuyết giảng và không quá vất vả khi giới thiệu, miêu tả, thể hiện những nội dung kiến thức mới. Từ đó học sinh dễ tiếp thu bài học. Hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí học sinh.
Những giờ thực hành hoặc phần chuẩn bị bài của học sinh sẽ thật sự hữu ích cho các em với các bài thuyết trình hoặc thực hiện dự án. Từ đó học sinh trở nên năng động và sáng tạo hơn. Kiến thức các em tự tích lũy từ kho tư liệu khổng lồ Internet qua các giờ thực hành giúp bổ sung và khắc sâu những kiến thức từ sách giáo khoa.
  Giáo viên không còn độc diễn, thay vào đó học sinh được tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu phong phú. Bài học cũng được thiết kế linh hoạt theo đặc trưng bộ môn hoặc nội dung bài học (ví dụ phần luyện tập củng cố và các giờ ôn tập là một trò chơi ngôn ngữ mô phỏng trò chơi Kim Tự Tháp, Trúc Xanh hoặc Giải ô chữ; giờ làm văn học sinh được thực hành bằng các bài tập thuyết trình Powerpoint…). Nhờ đó giờ học không còn khô cứng và mang tính áp đặt, giáo điều.
Đối với giáo viên, việc soạn bài với những ứng dụng của CNTT cũng mang lại những hiệu quả khác biệt. Bản thân giáo viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức về chuyên môn và Tin học để tự nâng cao tay nghề. Đặc biệt khi bắt tay vào soạn một bài dạy có vận dụng CNTT, giáo viên thật sự bị cuốn hút và càng làm nhiều thì càng thích thú và nảy sinh thêm nhiều ý tưởng. Từ đó lòng yêu nghề và sự sáng tạo cũng được bồi đắp.
 Lợi ích quan trọng nhất là học sinh không còn sợ, không còn chán ghét môn Văn nữa. Đây chính là điều kiện cần thiết để văn chương thực thi sứ mệnh giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh. Thật vậy, nếu học sinh không thích học Văn thì làm sao các em có thể lĩnh hội những bài học về cuộc sống được ẩn chứa trong các tác phẩm văn chương?
Tuy nhiên, mức độ hứng thú và tiếp thu bài hiệu quả của học sinh trong những giờ học có ứng dụng CNTT còn phụ thuộc vào chất lượng của giờ dạy.
Đối với bộ môn Ngữ văn, việc ứng dụng CNTT phải đảm bảo đặc trưng bộ môn, chuyển tải được các đơn vị kiến thức cơ bản cần thiết, mặt khác cần bảo đảm tính thẩm mỹ, khoa học.
2.           Hạn chế
-                     Nếu soạn giáo án không khéo léo lại làm thô thiển hóa nội dung bài văn câu thơ, làm giờ Văn trở nên khô cứng, mất đi sự hấp dẫn, mềm mại vốn có của mình.
-                     Mặt khác, một số giáo viên thực hiện giáo án điện tử quá đơn giản, chỉ như là thay thế bài viết trên bảng bằng cách trình chiếu những điều được soạn sẵn bằng máy tính.
-                     Lại có người lạm dụng kỹ xảo và thô thiển hóa việc dạy học bằng cách trình chiếu Power Point liên tục, dùng quá nhiều những hiệu ứng hay kĩ xảo có thể làm học sinh bối rối, khó tiếp thu.
-                     Hơn nữa, chuẩn bị một tiết dạy Ngữ văn có giáo án điện tử đúng nghĩa tốn nhiều thời gian và công sức
Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đọc hiểu văn bản lịch sử văn học, lí thuyết làm văn, lí luận văn học
Môn Ngữ văn có hai hoạt động: Đọc hiểu văn bản và Làm văn. Tri thức Ngữ văn gồm tiếng Việt, văn học, xây dựng văn bản. Về cơ bản, cả hai hoạt động này đều có thể ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy. Tuy vậy, do mỗi loại văn bản có yêu cầu và đặc trưng riêng nên việc ứng dụng cần thích hợp, không thể tùy tiện.
1) Đối với dạy đoc hiểu văn bản lịch sử văn học:

Sử dụng hình ảnh trực quan (hình ảnh tác giả, tác phẩm, minh họa cho các chi tiết trong tác phẩm), âm nhạc (nhạc nền, những bài hát liên quan đến tác phẩm), đoạn phim trong bài trình chiếu.
  
Hiệu ứng phông chữ: in đậm, tô màu, chữ to tạo hiệu ứng cho những nội dung kiến thức quan trọng.

Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm.
-         Lưu ý:
+  Những bài học về văn học sử một giai đoạn hay một tác gia văn học cần minh họa bằng các tư liệu, hình ảnh hoặc cần tổng kết một cách có hệ thống kiến thức văn học sử thì nên dùng phần mềm MS.Powerpoint để thiết kế, trình bày bài giảng.
+  Các bài đọc – hiểu văn bản, phân tích văn bản chỉ nên ứng dụng một phần nào đó, VD: phần giới thiệu tác giả, tác phẩm, giọng đọc của tác giả hoặc nghệ sĩ, một vài hình ảnh minh họa hoặc các tư liệu quý hiếm giúp học sinh hiểu sâu thêm tác phẩm.
2) Đối với văn bản đọc hiểu lý thuyết làm văn:

Ứng dụng cho giờ trả bài kiểm tra, chiếu những lỗi cần sửa và những đoạn văn hay cho HS xem.
  
Sử dụng cho những bài học có tính thực tế cao: viết quảng cáo, bản tin, phỏng vấn…để đạt được hiệu quả tốt nhất.

Minh họa bằng các loại hình bài tập, các đoạn văn bản, các câu trích dẫn…rất thuận tiện.

Quy trình tìm hiểu đề. Lập dàn ý, trình bày bố cục bài văn sẽ rõ ràng, mạch lạc hơn.

Dùng hệ thống chữ với màu sắc khác nhau, các gạch dưới và hệ thống kí hiệu để làm nổi bật những yếu tố quan trọng (câu văn, dùng từ…) cũng như những lỗi cần phân tích, đánh giá trong các ví dụ cụ thể.

Soạn thảo trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá
  
Soạn thảo những trò chơi vui để học vừa có tính trực quan, vừa có sức thu hút, hấp dẫn hứng thú người học.
3)  Đối với văn bản lí luận văn học
Vì các văn bản lí luận văn học chủ yếu là hệ thống tri thức, các khái niệm có tính chất lý thuyết nên càng cần phải ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học nhằm làm sinh động hơn cho bài giảng
-         Những mô hình, biểu bảng, sơ đồ hóa (graph),…dễ dàng hệ thống hóa kiến thức, dễ hiểu đối với học sinh
-         Hệ thống chữ với màu sắc khác nhau, hiệu ứng linh hoạt cũng góp phần nhấn mạnh những kiến thức trọng tâm.
Kết luận
Tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy đọc hiểu văn bản lịch sử văn học, dạy làm văn, dạy đọc hiểu văn bản lí luận văn học nói riêng có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, do đặc thù là môn học có tính chất “ươm trồng cảm xúc, bồi dưỡng thẩm mĩ”, việc giảng dạy Ngữ văn, mặc dù vẫn chấp nhận sự hỗ trợ của CNTT nhưng lại không chấp nhận sự xuất hiện thường xuyên, liên tục, thái quá của phương tiện này. Vấn đề đạt ra là mỗi GV Ngữ văn phải sáng suốt trong việc áp dụng nhằm phát huy tính tích cực của phương tiện này trong những trường hợp cần thiết sao cho quá trình giảng dạy của mình đạt kết quả mong muốn với mục tiêu là HS không chỉ nắm kiến thức mà còn được bồi dưỡng năng lực cảm thụ, năng lực thẩm mĩ và biết hướng đến những giá trị chân, thiện, mĩ.

SHARE THIS

Author:

Xin chào mọi người! Kết nối với tôi.

0 nhận xét: